Mới đây, Tổng Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành “Quy định về quy trình làm việc để các tổ đảng thảo luận, quyết định xử phạt đảng viên” và ra thông báo yêu cầu các địa phương, ban ngành phải tận tâm thực hiện quy định
Toàn văn “Quy định về quy trình làm việc của các tổ đảng bàn bạc, xác định việc xử phạt đảng viên” như sau
Quy định về quy trình làm việc của tổ đảng để thảo luận, quyết định xử phạt đảng viên
(Được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phê duyệt ngày 29 tháng 11 năm 2018 Được Tổng Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2018 Được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc sửa đổi vào ngày 26 tháng 5 năm 2025 Được Tổng Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành vào ngày 26 tháng 5, 2025)
Điều 1 Để tiêu chuẩn hóa việc thảo luận và ra quyết định về vấn đề kỷ luật đảng viên của tập thể, các quy định này được xây dựng theo “Quy chế làm việc của Tổ Đảng Đảng Cộng sản Trung Quốc” và “Quy định về thẩm quyền phê duyệt và thủ tục của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với Đảng viên bị kỷ luật”
Điều 2: Kiên trì tinh thần cải cách và chuẩn mực nghiêm minh trong quản lý đảng, thực hiện trách nhiệm chủ yếu của tổ đảng (bao gồm các cấp ủy có tính chất tổ đảng như dưới đây) quản lý đảng một cách toàn diện, nghiêm minh, tăng cường trách nhiệm giám sát của các cơ quan do cơ quan thanh tra, giám sát kỷ luật (sau đây gọi tắt là cơ quan) phân công, luôn sử dụng giọng điệu nghiêm khắc, biện pháp nghiêm khắc, không khí nghiêm khắc để phát huy sâu sắc phong cách, kỷ luật và phòng chống tham nhũng
Điều 3 Để thực hiện xử lý kỷ luật đảng đối với đảng viên thuộc sự quản lý của tổ đảng, Ban kiểm tra, giám sát kỷ luật (sau đây gọi là cơ quan được phái cử) và các cơ quan được phái đi do tổ đảng và Ban Kiểm tra, giám sát kỷ luật cử thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền, thủ tục quy định, tăng cường phối hợp, thông tin, liên kết trật tự, thông suốt, tạo thành khối thống nhất công tác, thống nhất hữu cơ giữa hiệu quả chính trị, hiệu quả kỷ luật, pháp luật và hiệu quả xã hội
Điều 4 Tổ đảng bàn bạc, quyết định các hình thức kỷ luật đảng đối với đảng viên trong đơn vị
Trường hợp đảng viên được bổ nhiệm, miễn nhiệm không thảo luận, quyết định tại đại hội tổ đảng nhưng là thành viên ban quản lý đảng bị xử lý kỷ luật đảng thì cũng có thể được Ủy ban kiểm tra kỷ luật cơ sở nơi đóng trụ sở (sau đây gọi là Ủy ban kiểm tra kỷ luật cơ sở) xem xét, phê duyệt theo quy định hoặc báo cáo cấp ủy cơ sở (sau đây gọi là cấp ủy cơ sở) để xem xét, phê duyệt; nếu có hình phạt khai trừ khỏi đảng thì cũng phải báo cáo đại hội đảng bộ xem xét, thông qua
Điều 5: Sau khi lập hồ sơ xem xét, điều tra vụ án đối với một đảng viên trong số nhân sự do tổ đảng quản lý theo quy định, cơ quan đóng quân thông báo cho người phụ trách chính tổ đảng của đơn vị nơi có người bị điều tra Đảng bộ cần hỗ trợ các cơ quan được cử đi thực hiện trách nhiệm giám sát, điều tra, xử lý các trường hợp vi phạm kỷ luật, pháp luật và có ý thức chấp nhận sự giám sát
Điều 6: Sau khi cơ quan đóng quân hoàn thành công tác rà soát, điều tra các đảng viên trong tổ lãnh đạo do tổ đảng của đơn vị đóng quân quản lý (bao gồm cả đơn vị giám sát toàn diện như dưới đây) và các đảng viên khác thuộc đối tượng giám sát trọng điểm nghi ngờ vi phạm kỷ luật, pháp luật, sau khi rà soát nội bộ và nghiên cứu tập thể sẽ đề xuất xử lý kỷ luật đảng và thông báo cho tổ đảng rồi chuyển đến cơ quan được phái đi tương ứng xem xét theo quan hệ lãnh đạo công tác của đảng trong đơn vị đóng quân
Đối với những trường hợp đặc biệt nhạy cảm, cơ quan đóng quân không cần chuyển hồ sơ cho cơ quan điều động xem xét sau khi báo cáo cơ quan điều động phê duyệt
Đối với những vụ án lớn, khó, phức tạp, bạn có thể nhờ cơ quan địa phương can thiệp trước để xét xử
Điều 7 Cơ quan được phái đi có trách nhiệm xem xét, kiểm soát chặt chẽ vụ việc, giám sát và sửa chữa sai sót, cân đối giữa số lượng và kỷ luật, lập biên bản xét xử và phản hồi chính thức
Các cơ quan được cử đi có trách nhiệm thường xuyên phân tích đặc điểm, khuôn mẫu vi phạm kỷ luật, pháp luật của đảng viên, cán bộ, báo cáo công tác rà soát vụ việc cho cơ quan được cử đi, kịp thời báo cáo các tình huống quan trọng
Điều 8 Sau khi cơ quan điều động xem xét, cơ quan điều động có trách nhiệm thông báo cho tổ đảng của đơn vị đóng quân về việc đề xuất xử lý kỷ luật đảng để tổ đảng bàn bạc, quyết định Trường hợp kiến nghị kỷ luật đảng khác với ý kiến của tổ đảng, không thể lấy ý kiến thì cơ quan đóng quân báo cáo cơ quan phái cử nghiên cứu, quyết định
Đối với trường hợp có cán bộ lãnh đạo chuyên trách là thành viên ban lãnh đạo do tổ đội của đơn vị đóng quân quản lý, cơ quan đóng quân có trách nhiệm liên lạc với các bộ phận liên quan của cơ quan đóng quân để thống nhất sau khi có ý kiến phản hồi của cơ quan đóng quân về ý kiến xét xử và thông báo cho tổ đảng của đơn vị đóng quân
Điều 9 Tổ đảng phải tập thể bàn bạc, quyết định việc xử phạt đảng viên, không một cá nhân hay một số ít người nào được ra hoặc phê chuẩn các quyết định khi chưa được ủy quyền
Quyết định kỷ luật đảng được ra dưới danh nghĩa của tổ đảng và có hiệu lực kể từ ngày tổ đảng thảo luận, ra quyết định
Điều 10 Sau khi có quyết định xử lý kỷ luật đảng, cơ quan đóng quân phải được thông báo và công bố chính thức trong vòng một tháng
Điều 11: Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày quyết định kỷ luật đảng có hiệu lực thi hành, Ủy ban kiểm tra kỷ luật đảng cơ sở có trách nhiệm báo cáo quyết định kỷ luật đảng và các tài liệu liên quan đến cơ quan được cử đi tương ứng để lưu giữ trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày các vấn đề kỷ luật đảng viên được tổ đảng thảo luận, quyết định Cơ quan được cử đi có trách nhiệm xem xét cẩn thận hồ sơ, phản hồi kịp thời về mọi vấn đề phát hiện và đôn đốc giải quyết
Cơ quan được cử đi có trách nhiệm gửi báo cáo đặc biệt về tình hình nộp hồ sơ, giám sát cho cơ quan điều động hàng năm và có thể báo cáo bất cứ lúc nào khi cần thiết
Trường hợp xử lý kỷ luật đảng đối với đảng viên, cán bộ đã đăng ký với Trung ương Đảng hoặc cấp ủy địa phương cùng cấp thì tổ đảng có trách nhiệm thông báo quyết định kỷ luật đảng cho Ban Tổ chức Trung ương hoặc ban tổ chức Đảng ủy cùng cấp theo quy định
Điều 12 Đối với những vụ việc kỷ luật đảng viên, cán bộ có quan hệ tổ chức đảng ở địa phương, quyền quản lý cán bộ thuộc tổ đảng cơ quan có thẩm quyền, nếu vụ việc được cơ quan đóng quân xem xét thì tổ đảng cơ quan có thẩm quyền bàn bạc, quyết định xử lý đảng viên và thông báo kết quả xử lý cho tổ chức đảng cơ sở; nếu vụ việc được Ủy ban thanh tra kỷ luật địa phương đề nghị xem xét thì Ủy ban thanh tra kỷ luật địa phương ra quyết định xử lý kỷ luật đảng theo đúng thủ tục và thông báo kết quả xử lý cho tổ đảng của cơ quan có thẩm quyền
Trường hợp đảng viên, cán bộ quy định tại khoản trên đồng thời là đảng viên cơ sở, đảng viên dự khuyết, ủy viên ban kỷ luật cơ sở thì ủy ban kỷ luật cơ sở thực hiện xem xét, phê duyệt kỷ luật theo quy định có liên quan và báo cáo quyết định kỷ luật lên tổ đảng cấp cơ quan có thẩm quyền Trong đó, nếu Ủy ban Kiểm tra kỷ luật địa phương có hồ sơ xem xét thì cơ quan tương ứng có thẩm quyền giám sát, thi hành kỷ luật hoặc Ủy ban Kiểm tra kỷ luật cấp có thẩm quyền lấy ý kiến tổ đảng của cấp có thẩm quyền rồi thực hiện quá trình phê duyệt kỷ luật
Điều 13 Tổ đảng kết hợp với thảo luận và ra quyết định về kỷ luật đảng viên, xác định những tồn tại về thể chế, thiếu sót về thể chế và lỗ hổng pháp lý, tiến hành phân tích sâu sắc nguyên nhân sâu xa của vấn đề, tăng cường quản lý đảng, thanh lọc hệ sinh thái chính trị, tăng cường xây dựng hệ thống, chuẩn hóa hoạt động quyền lực, tăng cường giáo dục kỷ luật, pháp luật, giáo dục cảnh báo, lấy các vụ án làm bài học, thúc đẩy cải cách, thúc đẩy quản trị
Điều 14: Dưới sự lãnh đạo của cơ quan điều động, cơ quan điều động có trách nhiệm xây dựng, hoàn thiện cơ chế đánh giá chất lượng để cơ quan điều động, cấp ủy, ủy ban kiểm tra kỷ luật cơ sở xem xét, xử lý vụ việc, phản ánh kết quả đánh giá và đôn đốc khắc phục
Điều 15 Cơ quan công tác của Đảng và cơ quan lãnh đạo của cơ quan công quyền trực thuộc Đảng bàn bạc, quyết định việc xử phạt đảng viên và căn cứ vào quy định này
Điều 16 Đội Kiểm tra và Giám sát Kỷ luật của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương và Ủy ban Giám sát và Quản lý tài sản Nhà nước của Hội đồng Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương và Ủy ban Giám sát Nhà nước tăng cường hướng dẫn công tác của Đội Kiểm tra và Giám sát Kỷ luật của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương và Ủy ban Giám sát Nhà nước của Ủy ban Doanh nghiệp Trung ương, đồng thời phối hợp với Đội Thanh tra và Giám sát Kỷ luật của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương và Ủy ban Giám sát Nhà nước các Doanh nghiệp Trung ương tiến hành xét xử các vụ việc liên quan và thực hiện theo các quy định này
Trường hợp Ủy ban Kiểm tra, giám sát kỷ luật địa phương chưa cử Ban công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật thì có thể trực tiếp tổ chức xét xử vụ việc có liên quan hoặc ủy quyền cho cơ quan kiểm tra, giám sát kỷ luật khác xét xử các vụ việc liên quan tùy theo tình hình thực tế
Điều 17 Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương chịu trách nhiệm giải thích những quy định này
Điều 18 Quy chế này có hiệu lực kể từ ngày ban hành